C2U

Bỗng Dưng Muốn Khóc

Cảm ơn bạn đã dừng lại một vài phút cho bài viết này. Nếu được hỏi “Lần cuối bạn khóc là bao giờ?” thì câu trả lời của bạn sẽ là gì? Có phải bạn chỉ mới khóc hôm qua, tuần trước, tháng trước, năm trước hay lần cuối đó đã quá lâu để bạn có thể nhớ được. 

Bạn có biết rằng khóc là cảm xúc đầu tiên ta có lúc chào đời, và rồi theo thời gian, đó dường như cũng là cảm xúc đầu tiên ta dần mất đi, khi cảm xúc dần trở nên chai sạn. Chủ đề này khiến mình nhớ đến câu hát “Nước mắt đàn ông không rơi từng giọt”. Mình vẫn nhớ như y cái khoảnh khắc lần đầu tiên nhìn thấy ba mình khóc khi xem TV, mình chợt nhận ra ba cũng thật “con người”, thật gần gũi và thật cảm xúc; mình bất giác muốn chia sẻ với ba mọi điều chân thành và thân thương nhất. Có lẽ việc trưởng thành, sống trong xã hội hoạt náo, cùng với guồng quay của cuộc sống đã vô hình chung khiến người ta phải học cách che giấu cảm xúc hoặc dần quên đi chính cảm xúc thật của mình. Thay vào đó ta học cách tập trung vào giải quyết vấn đề thay vì giãi bày cảm xúc để rồi đến một lúc nào đó ta thấy mọi chuyện đều trở nên bình thường, nhạt nhoà. Nếu ai đó một người muốn khóc mà không thể khóc, không biết nên làm gì tiếp theo, thì lẽ đó là dấu hiệu đầu tiên của việc mất cân bằng cảm xúc. Nước mắt đã bị “xã hội hóa” thành một biểu hiện của sự yếu đuối, bị dán nhãn là một cảm xúc tiêu cực – phải có chuyện gì đó thật tệ xảy ra thì chúng ta mới được phép khóc? Và khi ai đó khóc, đó có nhất thiết phải là vì một chuyện kinh khủng? Tại sao một người đàn ông khóc lại gợi lên nhiều và đa dạng phản ứng từ người xung quanh hơn so với một người phụ nữ khóc? Và sự kết nối của mọi cảm xúc – khi bị kìm nén hoặc được cho phép tự do biểu đạt – diễn ra như thế nào?

Tại sao chúng ta khóc?

Từ góc nhìn khoa học, khóc là một phản xạ do sự thay đổi tức thời của hệ thần kinh giao cảm. Khi có sự kiện nào đó xảy ra, hệ thống limbic trong não kết nối với hệ thần kinh, cơ thể phản ứng lại với sự kiện và kích hoạt khiến cho nước mắt chảy ra. Cơ chế tự nhiên này giúp giải phóng các hóa chất gây stress có khả năng gây hại, làm giảm căng thẳng và giải tỏa tâm lý ở con người (William Frey và Nick Knight).  Bày tỏ sự đồng cảm và ấm áp, hay sự bất lực và cần được an ủi, cần đến hỗ trợ về tinh thần – việc khóc, thông qua điều tiết cảm xúc, có nhiều chức năng xã hội khác nhau, đôi khi thậm chí là để thao túng người khác.  Không phân biệt giới tính, cách một người đánh giá việc khóc nói chung có liên quan đến niềm tin của họ về việc khóc có hữu ích (giúp giải quyết vấn đề) hay không. Mẹ mình rất ít khi khóc, và mình nhớ rằng chỉ thấy mẹ khóc rất nhiều một lần duy nhất khi hai mẹ con cãi nhau, không nói chuyện với nhau nhiều ngày trời. Đó là giây phút mẹ cảm thấy thực sự suy sụp, không được thấu hiểu và bất lực – bởi ngoài tính cách mạnh mẽ, điều kiện sống đã yêu cầu mẹ phải luôn gắng gượng, tập trung vào giải quyết vấn đề và che giấu cảm xúc rất nhiều. Mẹ đã xếp những nỗi niềm sang một bên, bỏ quên rằng mọi phản ứng từ bên trong đều cần phải được xử lý. Đó có thể là cách mà một người quên dần cách khóc.
Nguồn ảnh: Gus Moretta - Unplash

Giới Tính và Nước Mắt

Trong một nghiên cứu khác về nước mắt (Ad Vingerhoets) có liên quan đến giới, kết quả cho thấy trung bình phụ nữ khóc nhiều hơn nam giới, và sự khác biệt này không mang tính bẩm sinh. Không có sự khác biệt nào về mức độ khóc ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dựa trên giới tính của chúng (Vingerhoets và Scheirs, 2000). Chỉ cho đến khoảng 11 tuổi (độ tuổi dậy thì), mức độ dễ khóc cùng tần suất khóc giữa các bé trai và các bé gái mới bắt đầu có sự chênh lệch (Van Tilburg). Phần lớn sự thay đổi này nằm ở chỗ các bé trai ít khóc hơn, chứ không phải các bé gái khóc nhiều hơn. Từ sau tuổi dậy thì đến trước 40 tuổi, nam giới sẽ thường ít khóc hơn so với nữ giới. Ngoài yếu tố sinh học (nồng độ hormone prolactin) thì định kiến xã hội cũng là nguyên nhân cho việc này. Sự phân biệt giữa nam tính và nữ tính trong thể hiện cảm xúc tiêu cực đã dẫn đến mô hình biểu hiện cảm xúc phù hợp với vai trò giới. Nam giới có xu hướng thể hiện những cảm xúc thù địch và mạnh mẽ hơn như “tức giận”, “phẫn nộ” hay “cáu gắt”, và thái độ của họ ít khoan dung hơn đối với những cảm xúc bộc lộ tính dễ bị tổn thương, chẳng hạn như nỗi buồn và sự xấu hổ (Zeman & Garber, MacArthur & Shields). Những người đàn ông tuân thủ vai trò tính dục truyền thống hơn cũng có tần suất khóc ít hơn. Xu hướng ít thể hiện hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ (để xử lý nỗi đau hay các vấn đề tâm lý) dẫn đến tỷ lệ tự sát ở nam giới cao hơn so với ở phụ nữ (Keohane & Richardson). Ngược lại, phụ nữ có xu hướng bộc lộ những cảm xúc dễ bị tổn thương hơn, chẳng hạn như buồn bã, sợ hãi và xấu hổ – hơn là tức giận (Fischer & Manstead). Việc thường xuyên chia sẻ thúc đẩy họ tìm đến và gắn kết với người khác trong những tình huống căng thẳng thay vì một mình chịu đựng (Lane 2006).

Sau độ tuổi dậy thì, con người bước vào quá trình “xã hội hóa” – cảm xúc dần bị lý tính hóa. Con người đưa ra những ngôn từ để biện minh và lý giải thay vì cho phép sự biểu hiện tự nhiên của cảm xúc. Khi các cơ chế phản ứng bị kìm nén, chúng ta cũng đánh mất dần khả năng nhận diện cảm xúc ở bản thân mình và ở những người khác. Chúng ta gặp khó khăn trong việc “đọc” những biểu hiện lo lắng, bất an, xấu hổ, tự ti, tội lỗi, vv.. – những biểu hiện thoáng qua dù chỉ rất nhỏ nhưng có thể gây tắc nghẽn từ bên trong khi bị dồn nén trong một thời gian dài. Những nhu cầu cảm xúc của chúng ta trong các mối quan hệ bị tảng lờ, bị “đói ăn”, không được cổ vũ, hồi đáp và nuôi dưỡng. 

Khi một người không thể khóc trong nhiều năm, rất khó để họ có thể nhạy cảm và tinh tế trong việc đoán nhận cảm xúc hay nỗi đau ở người khác. Một nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ mắc chứng alexithymia ở nam giới cao hơn phụ nữ – tức là họ không có khả năng phân biệt giữa các trạng thái cảm xúc khác nhau, gặp khó khăn trong việc nhận biết và thể hiện cảm xúc (Fischer & Good, Lane, Schrest & Riedel). Nguyên do của chứng rối loạn này rất có thể là những yếu tố xã hội thay vì sinh học.

Nguồn ảnh: Bill Wegener - Unplash

Là một du học sinh hay những người đang làm việc xa nhà, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng chạnh lòng đặc biệt là dịp cuối, Tết đến, xuân về. Trong khi những người xung quanh sum họp, quây quần cùng gia đình trong lễ Giáng Sinh và năm mới, còn mình thì chỉ lủi thủi trong căn phòng trọ với bốn bức tường. Đã có những năm mà mình giữ được tâm trạng ổn định, hứng khởi trong những ngày đầu tiên, nhưng đến khi đi làm vào mùng 3 Tết, sự tủi thân và cô đơn trong mình lại trỗi dậy và cái cảm xúc nhớ nhà, nhớ bữa ăn sum họp càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cái giá lạnh của châu Âu và tình hình giãn cách do dịch Covid rất có thể sẽ khiến cho đời sống du học sinh càng khó khăn hơn nữa. Mình đã từng học cách nuốt xuống những giọt nước mắt vì nghĩ rằng khóc không giải quyết được việc gì cả, cho đến khi mình nhận ra rằng khi mình “tắt đi” một cảm xúc này, “cái van” cho những cảm xúc khác sẽ được vặn ra một cách bùng nổ và mất kiểm soát. Khi mình không thể giải tỏa được nỗi buồn, mình cũng sẽ khó có thể tận hưởng niềm vui, thoải mái mỉm cười và sự bình an trong tâm hồn. 

C2U mong rằng trong quãng thời gian dài bạn học cách trưởng thành này, bạn sẽ rèn luyện được cách bộc lộ những cảm xúc tự nhiên, chân thật nhất của mình. Những nỗi buồn, khó khăn cũng có giá trị riêng của chúng. Chỉ cần chúng ta ghi nhận mọi cảm xúc, trân quý mọi điều đã vượt qua, C2U tin rằng hành trình trên con đường đi đến đích của bạn sẽ đẹp và có ý nghĩa hơn rất nhiều. Chúc bạn mùa đông này và nhiều mùa khác – thay vì cố gắng “vượt qua” cảm xúc – hãy đón chào và ôm trọn mọi cảm xúc, mọi trải nghiệm như một đứa trẻ hồn nhiên bạn nhé!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

English EN Vietnamese VI